
Những khoảng trống số cần sớm được khỏa lấp
Viễn thông là hạ tầng thiết yếu, giữ vai trò nền tảng trong phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang được thúc đẩy mạnh mẽ, dịch vụ viễn thông không chỉ là phương tiện thông tin liên lạc mà đã trở thành điều kiện cơ bản để người dân, doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội, tiếp cận dịch vụ công và những tiện ích số.
Nghị quyết số 136 ngày 25/9/2020 của Chính phủ về phát triển bền vững đã nêu rõ “Xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu cao, thúc đẩy công nghiệp hóa bao trùm và bền vững, tăng cường đổi mới” là một trong những mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Việt Nam. Tại Nghị quyết này, Chính phủ đã giao Bộ TT&TT (nay là Bộ KH&CN) chủ trì “Thúc đẩy phổ cập Internet băng rộng như một tiện ích thiết yếu, phổ cập điện thoại thông minh đặc biệt tới các vùng công ích, hướng tới mục tiêu đảm bảo kết nối toàn diện, không bỏ lại ai phía sau...” và “...Tập trung phát triển hạ tầng thông tin truyền thông cho vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo. Thực hiện tốt việc bảo đảm quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.

Nhìn lại giai đoạn 2021 - 2025, với sự nỗ lực của nhà nước và các doanh nghiệp, hạ tầng viễn thông ở những vùng khó khăn đã có bước tiến quan trọng. Các doanh nghiệp đã đầu tư xây mới và duy trì 1.817 trạm BTS để cung cấp dịch vụ viễn thông di động, cùng 1.755 công trình hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ băng rộng cố định. Đặc biệt, hơn 900.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông; khoảng 4.500 cơ sở giáo dục và gần 1.100 trạm y tế ở các xã đặc biệt khó khăn được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Internet băng rộng cố định mặt đất.
Tuy vậy, thực tiễn triển khai thời gian qua cũng đã cho thấy bức tranh phát triển viễn thông vẫn còn những khoảng trống số đáng lo ngại giữa các vùng miền, đó là sự lệch pha về hạ tầng và sự không đồng đều về chất lượng phủ sóng viễn thông.
Cụ thể, khu vực đô thị được các doanh nghiệp viễn thông ưu tiên nâng cấp hạ tầng số hiện đại. Trong khi đó, tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc phát triển hạ tầng gặp nhiều trở ngại do địa hình hiểm trở, phức tạp. Thực tế này dẫn đến hạ tầng viễn thông tại những địa bàn khó khăn không theo kịp với sự phát triển của khu vực thành thị.
Mặt khác, hiện tại người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và những người có điều kiện kinh tế hạn chế, nhất là các hộ nghèo, hộ cận nghèo vẫn gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận và sử dụng dịch vụ viễn thông, Internet. Nếu không có chính sách hỗ trợ phù hợp, những nhóm dân cư này có nguy cơ gặp thêm bất lợi khi các dịch vụ thiết yếu chuyển dần lên môi trường số.
Đòn bẩy kép: Dựng hạ tầng số, tiếp sức an sinh
Thực tiễn thời gian qua đã minh chứng cho quan điểm chuyển đổi số quốc gia chỉ thực sự toàn diện và bền vững khi ánh sáng công nghệ được lan tỏa tới từng bản làng xa xôi nhất. Cũng vì thế, bước vào giai đoạn 2026 - 2030, Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích không đơn thuần là giải bài toán phát triển hạ tầng, mà chính là cam kết an sinh chiến lược của Đảng và Nhà nước, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin bình đẳng cho mọi người dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và hải đảo.
Được xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc chương trình giai đoạn trước, đồng thời điều chỉnh một số nội dung để phù hợp với tình hình mới, chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển hạ tầng số, chuyển đổi số quốc gia và bảo đảm an sinh xã hội; phát huy vai trò của viễn thông công ích trong việc thu hẹp khoảng cách số, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Chương trình mới cũng hướng tới bảo đảm quyền truy nhập bình đẳng của người dân với các dịch vụ viễn thông thiết yếu; ưu tiên hỗ trợ các khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các nhóm đối tượng yếu thế, theo nguyên tắc không để ai bị bỏ lại phía sau. Đồng thời, triển khai hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với nhu cầu thực tiễn và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, chương trình mới đã xác định hỗ trợ cung cấp dịch vụ (hạ tầng) và hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích (thụ hưởng) là các nhóm nhiệm vụ cốt lõi. Trong đó, về hạ tầng, ngoài việc mở rộng thêm địa bàn được hỗ trợ đến thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chương trình bổ sung nhiệm vụ hỗ trợ nâng cấp hạ tầng viễn thông để bảo đảm thông tin liên lạc trong các tình huống khẩn cấp.
Về hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông công ích, thay vì chỉ cho phép hộ nghèo, hộ cận nghèo tại khu vực đặc biệt khó khăn mới được lựa chọn sử dụng dịch vụ, chương trình mới mở rộng hơn về đối tượng. Theo đó, tất cả các hộ nghèo, hộ cận nghèo trên phạm vi cả nước đều được lựa chọn sử dụng dịch vụ viễn thông di động mặt đất hoặc Internet băng rộng cố định mặt đất. Sự điều chỉnh này xóa bỏ rào cản địa lý, mang lại sự bình đẳng cho người nghèo, cận nghèo ở mọi vùng miền.
Từ thực tế một số khu vực tại vùng sâu, vùng xa có rất ít dân cư, có nơi chưa có điện lưới gây khó khăn cho việc lắp đặt trạm BTS, chương trình mới bổ sung nội dung hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông trên mạng viễn thông cố định vệ tinh tầm thấp tại các điểm cộng đồng. Đây là giải pháp giúp người dân vùng đặc biệt khó khăn sớm được tiếp cận với tri thức số.
Đặc biệt, việc chương trình mới tiếp tục hỗ trợ cước Internet băng rộng cho các trường mầm non, trường phổ thông (bao gồm các điểm trường lẻ), trạm y tế/điểm trạm y tế xã, điểm hỗ trợ ứng dụng CNTT vùng dân tộc thiểu số được nhận định sẽ góp phần thúc đẩy người dân sử dụng các dịch vụ số thiết yếu.
Rõ ràng là, chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2026 – 2030 không chỉ là một kế hoạch đầu tư phát triển hạ tầng, mà là một cam kết chính trị - xã hội sâu sắc của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền được thông tin, nâng cao dân trí và mở ra cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi người dân.
Việc giải quyết triệt để những tồn tại, hạn chế của chương trình cũ, kết hợp với các định hướng đột phá về mở rộng địa bàn, đối tượng thụ hưởng và ứng dụng công nghệ vệ tinh tầm thấp sẽ góp phần tạo nên động lực mạnh mẽ, đưa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hội nhập sâu rộng vào dòng chảy chuyển đổi số quốc gia, góp phần đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.
| Để triển khai Chương trình viễn thông công ích giai đoạn mới, thời gian qua, Bộ KH&CN đã ban hành các văn bản bản hướng dẫn làm cơ sở để địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan thống nhất cách tổ chức cung cấp dịch vụ, kiểm tra, nghiệm thu và thực hiện chính sách hỗ trợ: Thông tư 01 hướng dẫn một số quy định về hoạt động viễn thông công ích và cơ chế tài chính; Thông tư 51 hướng dẫn yêu cầu phổ cập đối với từng loại hình dịch vụ và đo tốc độ mạng; và Thông tư 57 hướng dẫn thực hiện chương trình đến năm 2030. |
