Một ngân hàng có lãi suất cho vay bình quân vượt 11%/năm
Tính đến ngày 19/8, có 19 ngân hàng thương mại trong nước đã công bố lãi suất cho vay bình quân và chênh lệch lãi suất trong tháng 7/2026. Trong số đó, không có ngân hàng nào giảm lãi suất cho vay bình quân so với tháng 6.
Trong 19 ngân hàng đã công bố, SCB giữ nguyên lãi suất huy động và lãi suất cho vay bình quân từ đầu năm 2026 và tiếp tục duy trì mức lãi suất này trong tháng 7 vừa qua.
Nam A Bank và HDBank không có số liệu lãi suất cho vay bình quân tháng 6 để so sánh, trong khi lãi suất cho vay bình quân được công bố trong tháng 7 lần lượt là 8,79%/năm và 10,4%/năm; chênh lệch lãi suất giữa cho vay và huy động bình quân lần lượt là 1,81%/năm và 3,20%/năm.
Các ngân hàng còn lại đã công bố thông tin lãi suất đều tăng từ 0,02 đến 1,37 điểm phần trăm. Diễn biến này phản ánh thực trạng mặt bằng lãi suất đang rất khó giảm, hoặc duy trì mặt bằng hiện tại. Trong các tháng 5 và 6, lần lượt có 6 và 8 ngân hàng trong danh sách theo dõi ghi nhận lãi suất cho vay bình quân giảm.
Trong các ngân hàng đã công bố, mức tăng lãi suất cho vay bình quân mạnh nhất trong tháng 7 thuộc về GPBank, tăng 1,37 điểm phần trăm so với tháng 6, lên 11,34%/năm. Đây cũng là ngân hàng duy nhất công bố lãi suất cho vay bình quân vượt ngưỡng 11%/năm.
Ngoài GPBank, các ngân hàng (trong nhóm 19 ngân hàng đã công bố) có lãi suất cho vay bình quân trên 10%/năm gồm Vikki Bank 10,82%, BVBank 10,71%, Techcombank 10,62%, Bac A Bank 10,48% và Viet A Bank 10,19%. Đây cũng là nhóm ngân hàng có mặt bằng lãi suất cho vay bình quân cao nhất trong số các ngân hàng đã công bố.
Nhiều nhà băng vẫn chưa công bố lãi suất cho vay bình quân
Ngược lại, Agribank là ngân hàng công bố mức lãi suất cho vay bình quân tăng nhẹ nhất, chỉ 0,02 điểm phần trăm so với tháng 6.
Lãi suất cho vay bình quân tháng 7 do Agribank công bố là 8,53%/năm. Trong đó, lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên là 4%/năm, lãi suất cho vay ngắn hạn tối thiểu là 6,1%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn tối thiểu là 7,8%/năm và lãi suất cho vay thẻ tín dụng là 15%/năm.
Trong kỳ, lãi suất huy động bình quân do Agribank công bố là 5,36%/năm. Cùng với các chi phí khác (gồm dự trữ thanh toán, bảo hiểm tiền gửi, chi phí bù kỳ hạn và chi phí hoạt động) 2,01%/năm, nên chênh lệch lãi suất giữa cho vay và huy động bình quân là 1,16%/năm.
Lãi suất cho vay bình quân tháng 7 tại một “ông lớn” khác thuộc nhóm ngân hàng Big4 là BIDV tăng 0,29 điểm phần trăm so với tháng trước, lên 7,35%/năm. Mức chênh lệch lãi suất là 2,75%/năm, chênh lệch lãi suất sau khi trừ các chi phí liên quan hoạt động huy động, sử dụng vốn là 1,44%/năm.
Hai ngân hàng còn lại trong nhóm Big4 là Vietcombank và VietinBank đều chưa công bố lãi suất cho vay bình quân của tháng 7. Trước đó, lãi suất cho vay bình quân tháng 6 theo công bố của hai ngân hàng lần lượt là 7,5%/năm và 6,14%/năm, duy trì xu hướng tăng nhẹ so với đầu năm.
Lãi suất cho vay bình quân theo công bố của các ngân hàng là mức lãi suất cho vay bình quân chung tháng gần nhất đối với tất cả các khoản vay. Mức lãi suất cho vay thực tế được áp dụng đối với mỗi khách hàng phụ thuộc vào mức độ rủi ro, năng lực tài chính và tài sản bảo đảm.
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại phải công khai lãi suất cho vay bình quân định kỳ hàng tháng trên website.
Tuy nhiên, đến ngày 19/8, một số ngân hàng chưa công bố lãi suất cho vay bình quân của tháng 7 gồm: Vietcombank, VietinBank, BaoViet Bank, OCB, TPBank, SeABank, PVcomBank, VPBank, VCBNeo, NCB, Eximbank, MSB, ABBank, Sacombank, SHB, VietBank.
Trong đó, hai ngân hàng ABBank và VietBank thường xuyên “quên” cập nhật thông tin về lãi suất bình quân của các tháng.
|
Lãi suất cho vay bình quân từ 8,3-10,5%/năm Ngân hàng Nhà nước cũng vừa công bố thông tin về diễn biến lãi suất của tổ chức tín dụng đối với khách hàng tháng 7/2026. Theo đó, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân đối với các khoản tiền gửi mới và cũ ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng dao động từ 4,1-4,6%/năm; kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng dao động từ 6,3-7,8%/năm. Lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12-24 tháng dao động từ 6-7,4%/năm và từ 7,2-7,9%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng. Đối với lãi suất cho vay VND, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,3-10,5%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm. Lãi suất cho vay USD bình quân đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 4,1-5,4%/năm. |
| LÃI SUẤT CHO VAY BÌNH QUÂN THÁNG 7/2026 TẠI CÁC NGÂN HÀNG ĐÃ CÔNG BỐ (%/NĂM) | |||
| NGÂN HÀNG | LSCVBQ | TĂNG SO VỚI THÁNG 6 | CHÊNH LỆCH LÃI SUẤT |
| SCB | 5,4 | 0 | 3,55 |
| BIDV | 7,35 | 0,29 | 1,44 |
| VIB | 8,28 | 0,17 | 1,87 |
| AGRIBANK | 8,53 | 0,02 | 1,16 |
| MB | 8,56 | 0,13 | 2,85 |
| PGBANK | 8,66 | 0,67 | 1,56 |
| NAM A BANK | 8,79 | 8,79 | 1,81 |
| KIENLONGBANK | 9,05 | 0,21 | 1,74 |
| ACB | 9,28 | 0,22 | 2,6 |
| MBV | 9,35 | 0,19 | 1,53 |
| SAIGONBANK | 9,5 | 0,2 | 3,3 |
| LPBANK | 9,78 | 0,9 | 3,06 |
| VIET A BANK | 10,19 | 0,39 | 3,14 |
| HDBANK | 10,4 | 3,2 | |
| BAC A BANK | 10,48 | 0,13 | 3,38 |
| TECHCOMBANK | 10,62 | 0,87 | 5,54 |
| BVBANK | 10,71 | 0,14 | 2,71 |
| VIKKI BANK | 10,82 | 0,99 | 3,45 |
| GPBANK | 11,34 | 1,37 | 2,93 |
| SEABANK | 2,52 | ||