Trong suốt năm 2025, các UAV tầm xa của Ukraine đã liên tục tập kích các cơ sở sản xuất UAV kiểu Molniya ở vùng biên giới Rostov của Nga. Tuy nhiên, đối với các lực lượng Kiev, việc làm gián đoạn quá trình sản xuất UAV Molniya rất khó khăn vì đây là một thiết bị rất đơn giản, không bị ràng buộc với một cơ sở duy nhất và có thể được lắp ráp ở nhiều địa điểm khác nhau.

UAV van ep Pravda 1.jpg
Một UAV Molniya của Nga bị quân Ukraine bắn hạ. Ảnh: Ukrainska Pravda 

Theo báo Ukrainska Pravda, các UAV tấn công tầm trung, sản xuất hàng loạt với chi phí thấp như Molniya đang trở thành mối đe dọa mới mà Ukraine phải đối mặt năm nay. Việc người Nga liên tục thử nghiệm và sửa đổi các tính năng và ứng dụng khác nhau cho Molniya đã khiến UAV này trở nên vô cùng nguy hiểm và đang góp phần định hình lại tiền tuyến.

Khi hậu phương không còn an toàn

Nhiều đơn vị quân đội Ukraine lần đầu tiên chạm trán với UAV Molniya vào năm 2024. Vào thời điểm đó, ở các khu vực tiền tuyến, việc di chuyển ra xa đường tiếp xúc 18 - 20km đồng nghĩa rời khỏi vùng giao tranh thực sự và tiến vào một khu vực “rủi ro có thể kiểm soát được”. Các lực lượng hậu cần di chuyển qua khu vực này, các đội điều khiển UAV hoạt động ở đó và binh lính luân phiên ra vào.

Tuy nhiên, chính ở khoảng cách này, các binh sĩ của Tiểu đoàn Hệ thống không người lái Antares thuộc đơn vị Rubizh, Lữ đoàn 4 Vệ binh quốc gia Ukraine lần đầu tiên nhận ra công thức trên không còn đúng nữa. Ông Samir, chỉ huy tiểu đoàn Antares kể: "Lúc đó, khoảng cách 18-20km được coi là an toàn, nơi bạn có thể bật đèn pha ô tô và lái xe mà không lo lắng. Nhưng một đêm nọ, UAV Molniya đã gây ra rắc rối nghiêm trọng. 5 hoặc 6 chiếc xe bị cháy rụi trên cùng một con đường, một số là của chúng tôi, số khác thuộc về một đơn vị lân cận. Đó là lúc rõ ràng cho thấy khoảng cách này không còn đảm bảo an toàn nữa”.

Ông Kot, chỉ huy một đại đội UAV tấn công thuộc Lữ đoàn K-2 của Ukraine cũng có quan điểm tương tự. Ông nói UAV Molniya không phải là một bước đột phá công nghệ hay một loại vũ khí hoàn toàn mới của Nga. Song, việc có thể dễ dàng được sản xuất hàng loạt đã khiến mẫu UAV trở nên đặc biệt nguy hiểm.

Đối với các lực lượng vũ trang Ukraine, đây không phải là một "cuộc đối đầu mới", mà là mức độ rủi ro cao hơn trong các hoạt động tác chiến thường quy. Molniya đẩy rủi ro ra xa hơn về phía sau, khiến việc ngụy trang và thận trọng trở nên cần thiết ngay cả khi không ở trong khu vực giao tranh ác liệt.

Theo ông Samir, Nga đã phát triển mạnh mẽ cách sử dụng Molniya trong năm qua. Ban đầu, chúng chủ yếu nhắm mục tiêu vào các hoạt động hậu cần của đối phương ở khoảng cách tương đối xa, nhưng tầm hoạt động của chúng đã mở rộng đáng kể theo thời gian, lên tới hơn 50km kể từ đường tiếp xúc, vào sâu trong lãnh thổ đang nằm dưới sự kiểm soát của các lực lượng Kiev.

UAV lợi hại

Quân đội Ukraine xếp Molniya thuộc loại UAV tấn công giống máy bay có cánh thông thường. Thực tế, Molniya là loại trung gian giữa UAV góc nhìn thứ nhất (FPV) 4 cánh quạt thông thường và các loại vũ khí lượn lớn hơn, chẳng hạn như UAV Lancet, phục vụ các mục đích khác nhau về tầm bắn, độ chính xác và chi phí.

UAV van ep Pravda 3.jpg
Các binh sĩ Nga vận hành UAV Molniya-2. Ảnh: Ukrainska Pravda 

Không giống như FPV, Molniya không được thiết kế cho các cuộc tấn công chính xác tầm ngắn khi bay lơ lửng trên mục tiêu. Thay vào đó, UAV này là một nền tảng bay ngang, cho phép nó mang đầu đạn nặng hơn và tấn công các mục tiêu nằm ngoài tiền tuyến như mạng lưới hậu cần, vị trí phía sau hoặc cụm thiết bị.

Người Nga đã phát triển Molniya thành nhiều biến thể trong suốt quá trình sử dụng, từ thay đổi trọng lượng, hệ thống năng lượng đến tải trọng cho phép. Phiên bản phổ biến nhất là mẫu mở rộng có tên gọi Molniya-2.

Trong một bài xã luận gửi báo Ukrainska Pravda, chuyên gia phân tích Nazarii Barchuk thuộc Trung tâm An ninh và Hợp tác Ukraine đã mô tả Molniya là một UAV tầm trung điển hình, trong đó yếu tố then chốt là sự cân bằng giữa tầm bay và tải trọng chiến đấu. Ông Barchuk lưu ý trong phiên bản Molniya-2, trọng lượng cất cánh tối đa của UAV có thể đạt khoảng 10kg, trong khi tải trọng chiến đấu thường từ 3 - 5kg. Với phiên bản này, UAV có tầm bay khoảng 30km hoặc có thể bay liên tục đến 40 phút.

Các phiên bản cơ bản của Molniya sử dụng kênh điều khiển vô tuyến, khiến chúng dễ bị tổn hại trước các biện pháp tác chiến điện tử. Theo quân đội Ukraine, UAV này được tùy chỉnh theo nhiệm và người Nga đã điều chỉnh cân bằng giữa tầm bay và tải trọng chiến đấu. 

Ví dụ, ở khoảng cách ngắn hơn, tải trọng có thể được tăng lên để giảm tầm bay, trong khi đối với các cuộc tấn công tầm xa hơn, trọng lượng được giảm xuống để bảo toàn năng lượng bay. Chính sự linh hoạt này đã khiến Molniya trở nên khác biệt so với những UAV cảm tử thông thường.

Một trong những phát triển đáng chú ý nhất là việc giới thiệu các phiên bản được trang bị kênh điều khiển quang học. Ở cấu hình này, Molniya không phụ thuộc vào hệ thống điều khiển vô tuyến và không thể bị các hệ thống tác chiến điện tử (EW) gây nhiễu. Tuy nhiên, cáp quang làm tăng trọng lượng, giảm tải trọng và hạn chế tầm bay, đồng nghĩa những UAV như vậy được sử dụng một cách chọn lọc, trong đó việc bay qua khu vực bị tấn công điện tử mạnh mẽ quan trọng hơn việc mang theo tải trọng chiến đấu tối đa.

Ngoài ra, các đơn vị quân đội Nga đang thử nghiệm những tùy chọn khác. Serhii "Flash" Beskrestnov, một chuyên gia công nghệ vô tuyến quân sự người Ukraine đã liệt kê nhiều biến thể của Molniya trên kênh Telegram của mình như mẫu UAV được trang bị đầu đạn nhiệt nhôm nhằm mục đích đốt cháy thiết bị, kho hàng và các cơ sở hậu cần; UAV được trang bị các yếu tố thị giác máy tính, được thiết kế để giảm sự phụ thuộc vào người điều khiển trong giai đoạn cuối của chuyến bay; các cấu hình mang theo FPV, trong đó Molniya đóng vai trò là phương tiện vận chuyển UAV nhỏ hơn đến gần mục tiêu hơn; các mẫu UAV được trang bị camera ảnh nhiệt, mở rộng khả năng sử dụng ban đêm và xác định mục tiêu.

Một hướng phát triển khác là việc tái cấu hình Molniya-2 thành UAV trinh sát giá rẻ. Vào cuối năm 2025, các nguồn tin của Nga đã tiết lộ về sự xuất hiện của các phiên bản UAV được trang bị camera ổn định bằng con quay hồi chuyển, cho phép chụp ảnh chất lượng tốt trong khi bay và thực hiện các thao tác ở tốc độ cao. Những UAV như vậy có thể được sử dụng để trinh sát, điều chỉnh tấn công hoặc chiếu sáng mục tiêu cho các loại vũ khí khác. Cũng có những trường hợp UAV trở thành nơi lắp đặt thiết bị đầu - cuối sử dụng mạng vệ tinh Starlink.

UAV van ep Pravda 2.jpg
Lính Ukraine bên một chiếc UAV Molniya mới thu giữ được. Ảnh: Ukrainska Pravda 

Cuối cùng, Molniya ngày càng được Nga sử dụng không phải như một UAV cảm tử độc lập, mà là một phần của chuỗi bao gồm UAV trinh sát, FPV hoặc pháo binh. Không phải tất cả các phiên bản cải tiến này đều được triển khai rộng rãi, nhưng chính quá trình phát triển cho thấy Nga đang cố gắng tối đa hóa tiềm năng của một nền tảng đơn giản, chi phí thấp.

Quá trình lắp ráp phi tập trung và sản xuất hàng loạt

Anatolii Khrapchynskyi, một chuyên gia hàng không đang làm phó giám đốc điều hành cho một công ty sản xuất thiết bị tác chiến điện tử, đánh giá Molniya không phải là một sản phẩm công nghệ cao theo nghĩa thông thường của ngành công nghiệp quốc phòng. Các thành phần chính của UAV này như điện tử, động cơ, quang học và liên kết vô tuyến được nhập khẩu chủ yếu từ thị trường dân sự và nước khác. Ông Khrapchynskyi nói “đóng góp” của Nga là rất nhỏ, chỉ gói gọn trong phần khung máy bay và các giải pháp thiết kế đơn giản.

"Thân UAV được làm bằng ván ép, nhựa và ống nhôm. Việc lắp ráp không yêu cầu thiết bị phức tạp hoặc máy móc chuyên dụng”, ông Khrapchynskyi giải thích. Chính cấu trúc này cho phép Molniya được lắp ráp tại các địa điểm nhỏ gọn, dễ dàng ngụy trang thành các cơ sở dân sự hoặc bán dân sự.

Ông Khrapchynskyi nhấn mạnh ngay cả khi quân Ukraine tấn công thành công vào các địa điểm chế tạo UAV Molniya cũng không có nghĩa toàn bộ hệ thống sản xuất của Nga phải ngừng hoạt động. Nhờ sự đơn giản của thiết kế và mô hình lắp ráp phi tập trung, Moscow có thể tiếp tục chế tạo Molniya tại các địa điểm khác hoặc di dời chúng mà không gây gián đoạn kéo dài. Đó là lý do tại sao các nền tảng như vậy dễ dàng mở rộng quy mô và dễ dàng phục hồi sau khi bị tàn phá.