Biên giới phía bắc năm 1979: Bài học nằm lòng

 40 năm đã trôi qua, song những bài học rút ra từ cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc tháng 2/1979 vẫn vô cùng quý giá, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay.

 

Ngày 17/2 đúng 40 năm trước, 600.000 quân Trung Quốc đã tràn sang Việt Nam. Cuộc chiến này tuy ngắn nhưng để lại thương vong nặng nề cho cả đôi bên và đẩy quan hệ hai nước vào tình trạng đóng băng trong một thời gian rất dài sau đó.

Mặc dù vậy, trải nghiệm đau thương này cũng giúp chúng ta đúc kết được nhiều bài học qúy giá, đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông vẫn còn căng thẳng và tiềm ẩn nhiều bất ổn.

Có lẽ bài học đầu tiên và lớn nhất có thể rút ra từ cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của tổ quốc tháng 2/1979 là không được phép đánh giá thấp nỗi lo sợ của một cường quốc. Các cường quốc vẫn có những mối lo ngại về an ninh và một khi lo sợ, rất có thể họ sẽ chủ động dùng vũ lực để trấn an bản thân.

Ở thời điểm Trung Quốc tấn công bành trướng chúng ta, tuy không mạnh như Mỹ hay Liên Xô nhưng nước này vẫn có thể được coi là một nước lớn ở khu vực Châu Á. Hơn nữa, Trung Quốc khi đó đã phát triển thành công vũ khí hạt nhân, đồng nghĩa với việc họ có thể răn đe mọi đối thủ có ý định tấn công lãnh thổ của mình.

Với lãnh thổ rộng lớn, Trung Quốc gần như là một “pháo đài bất khả xâm phạm” trước kẻ địch. Vì vậy trên lý thuyết, Trung Quốc có ít lý do để lo sợ trước Liên Xô, bất chấp căng thẳng giữa hai nước.

Thế nhưng từ góc nhìn của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh khi đó thì mọi chuyện hoàn toàn khác. Điều duy nhất họ thấy là Liên Xô đang tìm cách vây hãm mình từ tứ phía và Việt Nam sẽ là cái chốt cuối cùng giúp Liên Xô hoàn thành “vòng kim cô” siết chặt Trung Quốc. 

{keywords}
Ngày 17/2 đúng 40 năm trước, Trung Quốc đã tràn quân sang tấn công Việt Nam.

Lịch sử cho thấy người Trung Quốc đã không ít lần phải đối mặt với kẻ địch hùng mạnh nhưng không bị khuất phục. Dưới triều đại nhà Thanh, Trung Quốc thậm chí còn bị các cường quốc phương Tây đô hộ và chia năm xẻ bảy song dân tộc này vẫn tìm được lối thoát.

Nhưng đối với những nhà lãnh đạo Trung Quốc, bản thân việc bị bao vây chiến lược như vậy đã là một mối đe doạ an ninh nghiêm trọng. Đó là một mối lo sợ vô hình, vốn chỉ tồn tại trong tâm trí các nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc tháng 2/1979 cho thấy Trung Quốc không chỉ dùng đến vũ lực khi họ muốn bành trướng lãnh thổ, mà họ còn phát động vũ lực để trấn an bản thân trước các mối đe doạ. Có ý kiến hiện nay cho rằng Trung Quốc nhiều khả năng sẽ không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp Biển Đông bởi dùng vũ lực để chiếm đảo vô cùng rủi ro mà lại có thể “lợi bất cập hại”.

Điều này tuy có thể đúng nhưng rút kinh nghiệm từ quá khứ, để duy trì được hoà bình, Việt Nam cần tính đến cả trường hợp Trung Quốc tiến hành xung đột vũ trang chớp nhoáng ở quy mô hạn chế để “dạy các nước khác một bài học” hay giành lợi thế trên bàn đàm phán ở các thời điểm nhạy cảm. 

Bài học thứ hai rất đơn giản: một nước nhỏ như Việt Nam cần làm mọi cách để không bị coi là quân cờ trên bàn cờ nước lớn.

Năm 1965, quân đội Mỹ vượt Thái Bình Dương để đến Việt Nam với niềm tin rằng Việt Nam chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Liên Xô và Trung Quốc. Dưới ảnh hưởng của “học thuyết domino”, người Mỹ cho rằng Việt Nam là đạo quân tiên phong của khối xã hội chủ nghĩa và rằng nếu không đánh chặn chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, toàn bộ Đông Nam Á sẽ ngả theo Liên Xô.

Trong khi, thực chất Việt Nam là một nước độc lập và chúng ta nhận viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa đơn thuần để phục vụ mục tiêu thống nhất đất nước chứ không phải để giúp cho Liên Xô giành lợi thế trong Chiến tranh Lạnh ở Châu Á.

Năm 1979, Trung Quốc sử dụng vũ lực bành trướng sang biên giới chúng ta cũng vì họ nghĩ rằng Việt Nam đưa quân sang Campuchia để lật đổ chế độ Khơ Me đỏ diệt chủng chỉ để giúp Liên Xô kiểm soát Đông Dương. Trong khi thực chất đây hoàn toàn là hành động tự vệ chứ không nhằm bao vây họ.

Hết lần này đến lần khác, chúng ta đều chịu thiệt bởi các nước không nhận ra rằng người Việt Nam chiến đấu vì lợi ích của dân tộc Việt Nam chứ không phải bất kỳ thế lực nào khác.

Nhìn vào vấn đề Biển Đông hiện nay, Việt Nam có lợi ích trong việc thắt chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ và tất cả các nước muốn duy trì hoà bình cũng như tự do hàng hải trong khu vực. Nhưng cần tránh để bị hiểu lầm rằng Việt Nam đang ngầm phối hợp với nước này để kiềm chế nước kia. Để làm được điều này, chúng ta cần những sự hợp tác thực chất nhưng không khoa trương và đặc biệt tránh những tuyên bố dễ gây hiểu lầm về lập trường đối ngoại – quốc phòng của ta.

Cuối cùng, cách Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc bành trướng biên giới cho thấy họ tuy sẵn sàng sử dụng vũ lực nhưng vẫn hết sức cẩn trọng. Trước khi đưa quân sang Việt Nam, lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc đã đích thân sang Mỹ, Nhật Bản và các nước láng giềng chủ chốt để vận động ngoại giao và cô lập Việt Nam. Bắc Kinh đã chuẩn bị hết sức kĩ lưỡng cho cuộc chiến này và họ chỉ tấn công chúng ta khi đã chắc rằng cộng đồng quốc tế sẽ không lên án hay phản ứng một cách mạnh mẽ. Nói cách khác, việc cô lập chúng ta về mặt ngoại giao có thể xem như một trong những điều kiện cần để họ phát động cuộc bành trướng vào năm 1979.

Người Trung Quốc đặc biệt quan tâm tới dư luận quốc tế nên có lý do để tin rằng ngày nào Việt Nam còn được sự ủng hộ ngoại giao của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Mỹ và các nước phương Tây, ngày đó Trung Quốc còn động lực để hành xử kiềm chế. Để tránh rơi vào tình trạng cô lập, Việt Nam cần chứng minh rằng mình là một thành viên tích cực của cộng động quốc tế trong nhiều vấn đề dù không trực tiếp ảnh hưởng tới lợi ích của ta, đồng thời hành xử kiềm chế trong các cuộc khủng hoảng như sự kiện giàn khoan HD-981 năm 2014.

Những bài học trên có thể giúp Việt Nam tránh một cuộc đụng độ với Trung Quốc trong tương lai nhưng nó không thể giúp ta có được một môi trường thực sự hoà bình. Một dạng “hoà bình nóng” vốn chưa bao giờ là một trạng thái ổn định. Là nước nhỏ cạnh một nước lớn, chìa khoá để chúng ta có thể đảm bảo an ninh về lâu dài vẫn là quan hệ hữu hảo với láng giềng phương Bắc. Điều này chỉ đạt được khi hai bên có thể cùng nhau xây dựng lòng tin chiến lược, trước hết qua việc dám nhìn thẳng vào lịch sử, chấp nhận quá khứ nhưng bàn về tương lai.

Ngô Di Lân

tin nổi bật

Trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí thức, văn nghệ sĩ thấy mình nhỏ bé

Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù chưa phải là một đại trí thức được hiểu theo lối được đào tạo bài bản trường lớp, ấy vậy mà bằng kiến thức được đắp bồi từ đời sống thực tế, Người trở thành vĩ nhân của thời đại.

Phần Lan gia nhập NATO: Căng thẳng chờ phía trước

Chiến dịch quân sự của Nga tại Ukraine gây nhiều tác động đến trật tự quốc tế. Một trong những hệ quả của cuộc chiến chính là việc Phần Lan quyết định gia nhập NATO.

Hà Nội sẽ rà soát, thu hồi dự án bất động sản 'quây tôn'

Để Hà Nội cất cánh, trước hết cần dỡ bỏ các rào cản, di chuyển các chướng ngại vật đang nằm la liệt trên đường băng.

Thủ tướng thăm, làm việc tại Mỹ: Thông điệp của Việt Nam

Nếu Mỹ muốn tăng cường vai trò ở khu vực thì phải ủng hộ ASEAN nhiều hơn trong xử lý các vấn đề theo nguyên tắc: Hòa bình, ổn định, hợp tác, luật pháp quốc tế và vai trò trung tâm ASEAN.

Ngăn chặn tham nhũng từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn

Ban Nội chính TƯ phối hợp với Ban Tổ chức TƯ và các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan liên quan nghiên cứu, trình Bộ Chính trị, BCH TƯ xem xét, quyết định thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh.

Bộ trưởng Tài chính: Phát triển trái phiếu doanh nghiệp thành kênh huy động vốn bền vững

Sau các vụ việc như Tân Hoàng Minh, những vấn đề liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đã nóng lên trong thời gian gần đây.

Canada: Giáo dục không rập khuôn, giáo viên tự chọn sách giáo khoa

Xứ sở lá phong không phụ thuộc vào sách giáo khoa. Giáo viên tự chuẩn bị kế hoạch giáo án, được khuyến khích sáng tạo để đáp ứng nhu cầu và sở thích của học sinh.

Người kế nhiệm Thủ tướng Singapore: Vị lãnh đạo 4G

Thủ tướng Singapore mới đây công bố, Bộ trưởng Tài chính Lawrence Wong sẽ là lãnh đạo thế hệ thứ tư (4G), mở đường cho ông trở thành người đứng đầu của đảo quốc sư tử.

Vị tướng quyết định nổ súng trước giờ G và trận đánh không có người hy sinh

Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Huy Hiệu là cán bộ trực tiếp chiến đấu và chỉ huy trên nhiều chiến trường ác liệt. Quảng Trị là nơi ông gắn bó nhiều nhất.

Cuộc gặp giữa Chủ tịch Fidel với ‘anh hùng toàn những gái xuân xanh’

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã 2 lần vào thăm, ngồi ăn bữa cơm đạm bạc với các nữ pháo thủ ngay tại trận địa. Chủ tịch Cuba Fidel Castro cũng về thăm đơn vị...

Chuyện những thiếu nữ làm bạn với khẩu pháo nòng dài

Kể về những năm tháng chiến đấu của Đại đội nữ pháo binh chuyên đánh tàu chiến Mỹ ngoài khơi tỉnh Quảng Bình, nét mặt các cô tươi hẳn lên…

Gừng Kỳ Sơn thêm ‘cay’ và ‘nóng’

Gừng vốn cay xưa nay, nhưng gừng Kỳ Sơn hiện “cay” hơn cả, “nóng” hơn cả, vì trồng càng nhiều càng lỗ, càng giải cứu càng nóng ruột, nóng gan...

Từ thông điệp của Thủ tướng đến hành động để tạo lập niềm tin

Một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu như trút được gánh nặng sau khi nghe thông điệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong hội nghị “Phát triển thị trường vốn an toàn, minh bạch, hiệu quả, bền vững” cuối tuần trước.

Lòng dân trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) được giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Đồng Dù ở huyện Củ Chi và sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu của địch, dinh Độc Lập.

Trận đánh oanh liệt cuối cùng của vị Thượng tướng

Mỗi dịp tháng 4 về, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử lại hiển hiện trong ký ức của Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Huy Hiệu.