
Tham luận tại hội thảo về chuyển đổi số nông thôn do Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức mới đây, nhà báo Hoàng Thị Phương Liên, Tạp chí Dân tộc và Tôn giáo nhận định: Ở khu vực nông thôn nói chung và nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng, chuyển đổi số là một kênh kết nối thị trường nông sản, thúc đẩy sinh kế.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai chuyển đổi số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang gặp nhiều rào cản đặc thù, đòi hỏi cách tiếp cận khác biệt so với khu vực đô thị và các vùng, miền khác trong cả nước.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến hết tháng 6/2025, cả nước đã có 16.855 sản phẩm OCOP đạt 3 sao trở lên, 9.822 chủ thể OCOP, trong đó 17,1% người dân tộc thiểu số là chủ thể của các sản phẩm OCOP đã được công nhận.
Ngày càng nhiều bà con chủ động ứng dụng công nghệ số trong đời sống như: biết livestream bán hàng nông sản (mật ong, măng khô..); dùng Zalo để kết nối thương lái… Nhiều địa phương đã quan tâm xây dựng sàn giao dịch nông sản trực tuyến, đưa sản phẩm OCOP của đồng bào lên sàn thương mại điện tử.

Thế nhưng, nhìn một cách tổng quan, tỷ lệ người dân vùng cao sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin thị trường nông sản còn rất khiêm tốn.
Bà Liên phân tích một số nguyên nhân của thực trạng nêu trên: “Nội dung số chủ yếu bằng tiếng Việt phổ thông, ngôn ngữ giao diện chưa có nội dung bằng tiếng dân tộc nên thông điệp số khó tới được đồng bào. Hiện vẫn còn ít tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng dân tộc. Nhiều địa phương đã bước đầu thực hiện số hóa thông tin tuyên truyền bằng song ngữ hoặc tổ chức các lớp hướng dẫn bằng tiếng dân tộc, giúp người dân hiểu rõ hơn lợi ích của chuyển đổi số. Tuy nhiên, quy mô còn nhỏ và chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, nguồn lực con người và năng lực quản trị nội dung số ở địa phương còn yếu, thiếu đội ngũ thực hiện, biên tập song ngữ, quản trị nền tảng, nên các sáng kiến số thường manh mún, không bền vững và khó nhân rộng. Giao diện nền tảng chưa thân thiện với người dùng ít kỹ năng nên thông điệp số khó tới được đồng bào và hiệu quả tương tác thấp”.
Mặt khác, bà Liên cũng như nhiều chuyên gia nông nghiệp khác đều nhận thấy, một trong những hạn chế lớn nhất hiện nay là hệ thống dữ liệu số về nông sản vùng cao còn rời rạc và thiếu tính liên thông. Điều này khiến bà con thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu thông tin dự báo, dẫn đến việc sản xuất chưa sát với nhu cầu thực tế của thị trường. Việc thiếu hụt các hệ thống thu thập thông tin tự động và dự báo chuyên sâu khiến năng lực cạnh tranh của nông sản vùng cao bị hạn chế đáng kể.
Về lý thuyết, nếu thông tin được thu thập chính xác qua các ứng dụng di động và hệ thống cảm biến, hệ thống công nghệ thông tin phát huy tốt vai trò kết nối và phân tích để đưa ra những cảnh báo sớm về thị trường, các bản tin dự báo được chuyển hóa thành ngôn ngữ dễ hiểu, bà con vùng cao sẽ biết mình nên trồng cây gì, nuôi con gì và bán vào thời điểm nào để đạt giá trị cao nhất, tránh tình trạng nuôi trồng ồ ạt dẫn đến dư thừa.
Song thực tế cho thấy, nhiều mô hình số vẫn dừng ở tập huấn kỹ năng chung, cài ứng dụng, mở tài khoản, tạo gian hàng… Người dân được hướng dẫn “lên sàn” nhưng không được đồng hành để bán được hàng.
“Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: chuyển đổi số chưa được thiết kế xoay quanh sinh kế bản địa, chưa xuất phát từ câu hỏi rất thực tế của người dân: bán cái gì, bán cho ai, bán bằng cách nào, thu nhập có ổn định hơn không… Nói cho cùng, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chuyển đổi số chỉ bền vững khi nó trở thành một phần của sinh kế, chứ không phải một chương trình song song đứng ngoài cuộc mưu sinh hàng ngày của người dân”, bà Liên chia sẻ.


