
Áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026, đại diện Bộ Tài chính cho biết thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã được cải thiện. Đến ngày 22/8, huy động vốn bằng tiền đồng tăng 8,77% so với đầu năm, cao hơn mức tăng 8,38% của dư nợ tín dụng.
Tuy nhiên, đến ngày 3/9, tương quan này đã đảo chiều khi tín dụng tăng 9,98%, trong khi huy động vốn tăng 8,33%. Diễn biến này cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn vẫn còn đối với hệ thống ngân hàng.
Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) nhận định, mặt bằng lãi suất trong tháng 9 nhiều khả năng đi ngang ở vùng hiện tại, trong khi áp lực thanh khoản vẫn duy trì.
Theo BVSC, tăng trưởng huy động thấp hơn tăng trưởng tín dụng đang tạo áp lực lên nguồn vốn của các ngân hàng.

Bên cạnh đó, nhu cầu tín dụng được dự báo vẫn ở mức cao khi nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn chuẩn bị triển khai. Các ngân hàng trung ương lớn cũng chưa chuyển hẳn sang xu hướng nới lỏng, trong khi các cơ quan quản lý trong nước vẫn có những công cụ hỗ trợ thanh khoản như kênh OMO và hoán đổi ngoại tệ, cùng với việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công.
“Tăng trưởng tín dụng 9,98%, cao hơn đáng kể so với tăng trưởng huy động 8,33%, cho thấy áp lực thanh khoản chưa thực sự giảm và dư địa để lãi suất huy động tiếp tục giảm còn hạn chế. Trên thị trường trái phiếu Chính phủ, tỷ lệ trúng thầu thấp khi lợi suất đi ngang, phản ánh nhu cầu lợi suất của nhà đầu tư vẫn ở mức cao”, BVSC phân tích.
Trên thực tế, hệ thống ngân hàng vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn. Trong khi đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư hạ tầng, công nghệ và mở rộng sản xuất kinh doanh vẫn ở mức cao, đặt ra yêu cầu cân đối nguồn vốn phù hợp cho các ngân hàng.
Quan trọng không phải “lãi suất sẽ tăng hay giảm bao nhiêu”
Theo TS. Nguyễn Văn Lộc – Giám đốc Chương trình đào tạo Kinh doanh thương mại, Đại học Phenikaa - từ nay đến cuối năm, dư địa để giảm mặt bằng lãi suất huy động và cho vay là khá hạn chế.
“Kịch bản có xác suất cao hơn là lãi suất duy trì ở mặt bằng hiện tại và có thể tăng cục bộ tại một số ngân hàng, kỳ hạn hoặc nhóm khách hàng, thay vì hình thành một chu kỳ tăng mạnh trên toàn hệ thống”, TS. Nguyễn Văn Lộc nhận định.
Theo TS. Lộc, có bốn yếu tố chính tạo nên xu hướng này.
Thứ nhất, tốc độ tăng tín dụng đang cao hơn tốc độ tăng huy động vốn. Khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm, các ngân hàng phải cạnh tranh mạnh hơn để thu hút tiền gửi. Điều này khiến chi phí vốn đầu vào khó giảm và tạo một “mặt sàn” đối với lãi suất huy động.
Thứ hai, quý IV thường là giai đoạn nhu cầu tín dụng và thanh khoản tăng cao khi doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động, nhập hàng, sản xuất và chuẩn bị cho mùa kinh doanh cuối năm. Vì vậy, ngay cả khi thanh khoản hệ thống nhìn chung vẫn được điều tiết, áp lực huy động vốn tại từng ngân hàng có thể khác nhau và dẫn tới việc điều chỉnh lãi suất mang tính cục bộ.
Thứ ba, lãi suất trong nước còn chịu ràng buộc bởi tỷ giá, lạm phát và môi trường lãi suất quốc tế. Nếu các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng hoặc thắt chặt hơn, cùng với áp lực từ giá năng lượng và địa chính trị, dư địa để Việt Nam giảm mạnh lãi suất sẽ bị thu hẹp. Điều hành tiền tệ lúc này phải đồng thời cân bằng nhiều mục tiêu: hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn phải kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống.
Thứ tư, lãi suất cho vay thường có độ trễ so với lãi suất huy động. Khi chi phí huy động vốn chưa giảm, rất khó kỳ vọng lãi suất cho vay giảm mạnh trên diện rộng. Các ngân hàng vẫn có thể triển khai những gói tín dụng ưu đãi cho lĩnh vực ưu tiên hoặc khách hàng có chất lượng tốt, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc mặt bằng lãi suất cho vay chung của thị trường sẽ giảm tương ứng.
“Vì vậy, tôi cho rằng từ nay đến cuối năm khả năng lãi suất giảm sâu là không lớn; kịch bản hợp lý hơn là đi ngang ở mặt bằng tương đối cao và tăng nhẹ, có chọn lọc ở một số phân khúc. Tuy nhiên, cũng không nên quá lo ngại về một chu kỳ tăng mạnh, bởi cơ quan điều hành vẫn có các công cụ hỗ trợ thanh khoản và mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế”, TS. Nguyễn Văn Lộc phân tích.
Theo ông, điểm đáng chú ý nhất không phải là câu hỏi “lãi suất sẽ tăng hay giảm bao nhiêu”, mà là bài toán cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng và khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng. Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động trong những tháng tới, áp lực lên lãi suất sẽ còn hiện hữu.


