Chuyên gia góp bàn với việc thống kê và quản lý khu vực NOE của Việt Nam

Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, việc đánh giá, đo lường, thống kê và kiểm soát khu vực NOE của Việt Nam là một thách thức lớn đối với ngành thống kê.

Tương tự các nước trên thế giới, theo đánh giá của Tổng cục thống kê, việc đánh giá, đo lường, thống kê và kiểm soát khu vực NOE của Việt Nam là một thách thức lớn đối với ngành thống kê.

Thí dụ, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc do Tổng cục Thống kê công bố năm 2017 thấp hơn số liệu của Trung Quốc công bố là 26,2 tỷ USD cho thấy các hoạt động buôn bán tiểu ngạch qua biên giới Việt – Trung không hề nhỏ. Theo kết quả điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục thống kê, có hơn 5.144 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp, được xếp vào dạng kinh tế phi chính thức.

Trong đó, có 581.700 hộ kinh doanh chưa được đưa vào diện quản lý thuế, doanh nghiệp sử dụng hệ thống hai sổ sách hoặc các hoạt động kinh tế không có đăng ký về mặt pháp lý không được tổng hợp trong hệ thống các chỉ tiêu chính thức của nền kinh tế thì người lao động trong khu vực này không được hưởng các quyền lợi, nghĩa vụ trong hệ thống phúc lợi xã hội (bảo hiểm, thai sản..); các hoạt động đánh bạc, hoạt động mại dâm, hoạt động tín dụng đen đang mang đến hệ lụy không nhỏ về cả kinh tế và xã hội.

Như trên đã nêu, quy mô của khu vực NOE tại Việt Nam năm 2015 tương đương 14,78% GDP. Thực tế, quy mô này có thể lớn hơn nhiều.

{keywords}
Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, việc đánh giá, đo lường, thống kê và kiểm soát khu vực NOE của Việt Nam là một thách thức lớn đối với ngành thống kê.

Trong "Báo cáo tóm tắt về Kinh nghiệm thế giới về đánh giá khu vực kinh tế chưa được quan sát và một số gợi ý với Việt Nam", TS Cấn Văn Lực và nhóm tác giả có một số gợi ý đối với việc đánh giá, thống kê và quản lý khu vực "kinh tế chưa được quan sát" của Việt Nam như sau:

Thứ nhất, cần định nghĩa và phân loại các nhóm hoạt động khu vực NOE phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và bối cảnh của Việt Nam. Việc nghiên cứu, đánh giá và ước lượng quy mô khu vực NOE là cần thiết nhằm cung cấp thông tin chính xác về nền kinh tế, góp phần tăng nguồn thu ngân sách và hỗ trợ hoạch định cơ chế, chính sách và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Theo đó, cần định nghĩa và phân loại các nhóm hoạt động khu vực NOE phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, xem xét việc đo lường các hoạt động kinh tế ngầm, kinh tế bất hợp pháp trong quan sát quy mô khu vực NOE. Hiện nay, các nghiên cứu của WB và IMF không đưa kinh tế bất hợp pháp, tội phạm vào khu vực NOE, nhưng một số nước EU đã đưa khu vực kinh tế bất hợp pháp vào tính toán GDP thực. Việt Nam nên theo cách tiếp cận của WB và IMF.

Thứ hai, lựa chọn phương pháp đo lường phù hợp với mỗi loại hình hoạt động của khu vực NOE. Căn cứ vào định nghĩa và phân loại khu vực NOE, lựa chọn phương pháp, mô hình đánh giá khu vực NOE phù hợp với đặc điểm nền kinh tế Việt Nam và từng lĩnh vực hoạt động của khu vực NOE, so sánh kết quả giữa các phương pháp, mô hình để sai số ở mức tối thiểu, đồng thời tham khảo, so sánh với các kết quả nghiên cứu, đánh giá của các tổ chức quốc tế như IMF, WB. Theo đó, để đo lường quy mô khu vực NOE, Việt Nam có thể sử dụng phương pháp mô hình MIMIC hiện đang được IMF và WB sử dụng do kết quả của phương pháp này có kết quả khá sát với số liệu của các cơ quan thông kê, đồng thời phối hợp với phương pháp khảo sát trực tiếp hoặc đo lường gián tiếp. Các phương pháp khác như phương pháp đầu vào vật lý hay phương pháp cầu tiền tệ… khá phức tạp để đo lường và áp dụng. Kết quả đo lường từ các phương pháp khác nhau cần so sánh, đánh giá kết quả; từ đó lựa chọn phương pháp đo lường phù hợp và kết quả đo lường cần được cập nhật hàng năm.  

Thứ ba, phân tích các nguyên nhân, yếu tố tác động đến sự phát triển của khu vực NOE như gánh nặng thuế, chi phí an sinh xã hội, đạo đức thuế, hiệu quả của thể chế, mức độ tham nhũng, các quy định (về lao động, về hải quan, thanh toán không dùng tiền mặt..), chất lượng dịch vụ công, mức độ phát triển của nền kinh tế…; từ đó đưa ra các chính sách, định hướng và giải pháp nhằm kiểm soát và quản lý khu vực NOE.

Thứ tư, cân nhắc phương án đưa kết quả đo lường khu vực NOE (không bao gồm khu vực kinh tế bất hợp pháp) vào GDP nhằm phản ánh đầy đủ quy mô nền kinh tế thực, từ đó đưa ra các chính sách, giải pháp quản lý và phát triển nền kinh tế hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc xác định, lựa chọn các hoạt động khu vực NOE phù hợp để thu thuế là khá phức tạp, trong khi việc đưa khu vực NOE vào GDP sẽ làm tăng quy mô nền kinh tế, từ đó các giới hạn như tỷ lệ bội chi ngân sách/GDP, nợ công/GDP sẽ nới rộng, gây rủi ro trước mắt và lâu dài cho nền kinh tế. Khi đó, cần sử dụng các tỷ lệ có so với GDP (như bội chi ngân sách, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài….) cần điều chỉnh ngưỡng và có lộ trình phù hợp. Quan trọng hơn cả là từ đó, cần có giải pháp kiểm soát, quản lý khu vực NOE cũng như phân bổ nguồn lực hợp lý, hiệu quả hơn.

Thứ năm, trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, nhóm tác giả gợi ý một số cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm kiểm soát, quản lý khu vực NOE tại Việt Nam như sau:

(i)  Tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi đối với người dân và doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, để khuyến khích họ tham gia vào khu vực kinh tế chính thức nhiều hơn.

(ii) Xây dựng và nhất quán thực hiện cơ chế, chính sách, giải pháp dài hạn nhằm tạo điều kiện để các chủ thể đang kinh doanh không chính thức chuyển đổi sang kinh doanh chính thức. Theo đó, đối với các hộ kinh doanh cá thể, việc chuyển đổi thành doanh nghiệp nhỏ không thể là bắt buộc; mà thay vào đó, cần đơn giản hóa thủ tục chuyển đổi; có chính sách ưu đãi về thuế; đơn giản hóa qui định về sổ sách kế toán; cung cấp dịch vụ hỗ trợ, tư vấn để họ có thể vận hành doanh nghiệp suôn sẻ…v.v.

(iii) Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thuế, đơn giản hóa, minh bạch thủ tục thuế; tăng cường ứng dụng công nghệ đối với thủ tục đăng ký, nộp và quản lý thuế nhằm tạo thuận lợi đối với người nộp thuế; tăng cường củng cố các chuẩn mực xã hội về tính tuân thủ nộp thuế và siết chặt kiểm soát và nâng cao mức xử phạt hành vi trốn thuế (gồm cả hành vi chuyển giá) và lợi ích nhóm trong thu thuế, tạo tính công bằng hơn trong nghĩa vụ thuế và nộp thuế.  

(iv) Tiếp tục triển khai các biện pháp thực hiện Đề án 2545 (năm 2016) của Chính phủ về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ, trong đó, tiếp tục đẩy mạnh thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ, dịch vụ hành chính công (gồm cả công tác thuế); triển khai ứng dụng công nghệ thanh toán số mới (như ngân hàng số, Fintech, ví điện tử…); ban hành và nhất quán áp dụng hạn mức được thanh toán bằng tiền mặt (thí dụ 20 triệu đồng) cũng với cơ chế khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt (như miễn phí giao dịch có thời hạn đối với giao dịch giá trị nhỏ); có giải pháp cụ thể nhằm tăng niềm tin của người tiêu dùng đối với thanh toán số (ưu tiên nâng cấp hạ tầng công nghệ thanh toán, quan tâm an ninh mạng, giải quyết nhanh khi sự cố xảy ra…).

(v) Nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân và doanh nghiệp về các hoạt động thuộc khu vực NOE thông qua các hoạt động tuyền truyền, giáo dục, minh bạch về các quyền lợi, nghĩa vụ khi tham gia vào khu vực chính thức; tăng cường giáo dục tài chính, hướng dẫn người tiêu dùng trong thanh toán không dùng tiền mặt…v.v.

(vi) Triển khai các biện pháp chế tài mạnh đối với các hoạt động kinh tế bất hợp pháp; theo đó, cần hoàn thiện các quy định về xử phạt hành chính phù hợp hơn, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hoạt động bất hợp pháp; tăng cường chia sẻ thông tin thống kê khu vực NOE giữa các bộ ngành, địa phương; đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế về thống kê, kiểm soát hoạt động phi pháp, buôn lậu, rửa tiền, tài trợ khủng bố…v.v.

Sơn Hải lược trích

tin nổi bật

Bình Phước: Tỷ lệ giảm nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số mỗi năm giảm 2%

Báo cáo kết quả thực hiện 7 chỉ tiêu giai đoạn 2016-2020 cho thấy những nỗ lực của ngành y tế và Ban Dân tộc, đặc biệt là một số chỉ tiêu đạt và vượt so với kế hoạch.

Đồng Tháp: Tái cơ cấu ngành nông nghiệp để nâng thu nhập của người dân nông thôn

Đồng Tháp sẽ phát huy lợi thế, tiềm năng, tận dụng cơ hội để nâng cao thu nhập, đời sống của người dân khu vực nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái.

Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở Cà Mau

Hưng Mỹ là xã duy nhất của tỉnh Cà Mau được lựa chọn tổ chức điểm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2022.

Hậu Giang thúc đẩy phát triển kinh tế số nông nghiệp, nông thôn

Hậu Giang đã có 273 hộ SXNN tham gia giao dịch trên sàn TMĐT, đưa lên sàn 173 sản phẩm nông nghiệp. Tổng giá trị giao dịch trong nửa đầu năm 2022 khoảng 400 triệu đồng.

Tây Ninh: Bàn giải pháp để khu kinh tế Mộc Bài phát triển xanh, bền vững

Vừa diễn ra Hội thảo khoa học: "Quan điểm, định hướng giải pháp phát triển khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài theo hướng đô thị-công nghiệp-dịch vụ cửa khẩu xanh, bền vững giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".

Nam Định: Tập trung hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng

Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thi công cho các dự án đã được phê duyệt, các dự án lớn và công trình trọng điểm nên hoạt động đầu tư, xây dựng cơ bản ở Nam Đinh từng bước được phát triển.

Nam Định: 6 mục tiêu phát triển kinh tế số giai đoạn 2022 - 2025

Tỉnh Nam Định đã đề ra 6 mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế số như tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%...

Cao Bằng đẩy mạnh tuyên truyền về vai trò, vị trí của kinh tế tập thể, hợp tác xã

Kinh tế tập thể, hợp tác xã ở tỉnh Cao Bằng đã có nhiều sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường.

Bình Phước cần 10.400 tỷ đồng để phát triển bền vững nguồn nước

Tỉnh Bình Phước đang cần nguồn vốn khoảng 10.400 tỷ đồng để nâng cấp và phát triển hệ thống thủy lợi, khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Đến 2030, Nam Định cơ bản hoàn thành chuyển đổi số và xây dựng đô thị thông minh

Thỏa thuận hợp tác hướng đến mục tiêu bảo đảm Nam Định luôn nằm trong nhóm 20 tỉnh dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số và đến năm 2030 tỉnh cơ bản hoàn thành chuyển đổi số và xây dựng đô thị thông minh.

Cà Mau phấn đấu trở thành một trong những tỉnh, thành phố chuyển đổi số thành công

Cà Mau phấn đấu là tỉnh cơ bản hoàn thành số hóa các lĩnh vực KTXH; đến năm 2030 sẽ số hóa toàn diện các lĩnh vực, kinh tế số thành lợi thế cạnh tranh, chiếm 20% GRDP của tỉnh và trở thành một trong những tỉnh, thành phố chuyển đổi số thành công.

Đồng Tháp: Hạ tầng KCN thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư, tập đoàn lớn

Hiện nay, Đồng Tháp có 11 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký là 204,07 triệu USD. Các KCN (Sa Đéc, Sông Hậu, Trần Quốc Toản) cũng đạt tỷ lệ lắp đầy bình quân khoảng 99,26%.

Hà Giang hoàn thành trước thời hạn 2/7 chỉ tiêu Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia

Đánh giá tiến độ triển khai thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, so với mục tiêu đề ra đến năm 2025, đến nay tỉnh Hà Giang đã hoàn thành trước thời hạn 2/7 chỉ tiêu.

Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Nam Định

Nam Định là địa phương có số doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số nên nhu cầu được tiếp cận với các thông tin kiến thức về khởi nghiệp, đổi mới và sáng tạo rất lớn.

Vĩnh Phúc tập trung nguồn lực phát triển đô thị xanh, hiện đại

Dù còn nhiều trở ngại nhưng tỉnh Vĩnh Phúc đang nỗ lực tập trung xây dựng và phát triển đô thị xanh, hiện đại bằng nhiều giải pháp.